Hải Phòng triển khai các chủ trương lớn về thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thể dục, thể thao

Hải Phòng triển khai các chủ trương lớn về thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển thể dục, thể thao
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; Kế hoạch hành động số 103-KH/TU ngày 14/9/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng và Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 26/8/2026 của Ban Thường vụ Thành ủy về phát triển thể dục, thể thao thành phố Hải Phòng đến năm 2030, định hướng đến năm 2045 là những chủ trương quan trọng, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội của thành phố trong giai đoạn tới.
Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, góp phần bổ sung nguồn lực đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành các ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu và từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài vẫn còn một số hạn chế, nhất là tỷ lệ dự án thâm dụng lao động, đất đai, gia công, lắp ráp còn cao; chuyển giao công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu phát triển mới.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận cấu thành không tách rời của nền kinh tế quốc gia; đồng thời yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy thu hút đầu tư, chuyển từ chủ yếu thu hút vốn sang xây dựng nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia. Việc thu hút đầu tư phải hướng theo cụm ngành, chuỗi giá trị, lấy chất lượng, hiệu quả và chuyển giao công nghệ làm tiêu chí quan trọng; bảo đảm môi trường đầu tư minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và đóng góp thực chất cho nền kinh tế.
Theo mục tiêu đề ra, đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu thu hút vốn đăng ký từ 200 đến 300 tỷ USD, trong đó khoảng 75% đến từ các nền kinh tế phát triển; tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt 45 - 50%. Định hướng đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp khoảng 30% GDP, góp phần đưa Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất, dịch vụ và đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh cao tại châu Á.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 10-NQ/TW, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã ban hành Kế hoạch hành động số 103-KH/TU ngày 14/9/2026 nhằm xây dựng hệ sinh thái FDI chất lượng cao, hiện đại, phát triển bền vững, phát huy tối đa lợi thế của thành phố và chủ động đón đầu xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế. Kế hoạch đặt yêu cầu tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân.
Một trong những yêu cầu quan trọng được thành phố nhấn mạnh là đổi mới tư duy từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, đồng hành cùng nhà đầu tư; phân công nhiệm vụ bảo đảm nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền”. Đồng thời, thành phố kiên định quan điểm không đánh đổi môi trường và an sinh xã hội lấy tăng trưởng đơn thuần; tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu trong tổ chức thực hiện.
Đến năm 2030, Hải Phòng phấn đấu tiếp tục nằm trong nhóm dẫn đầu về môi trường kinh doanh và năng lực thu hút FDI chất lượng cao, với mức thu hút bình quân đạt 4 - 5 tỷ USD mỗi năm; trên 90% dòng vốn đến từ các nền kinh tế phát triển. Định hướng đến năm 2045, khu vực kinh tế FDI đóng góp khoảng 40 - 45% GRDP của thành phố.
Thành phố sẽ tập trung ưu tiên các dự án công nghệ cao như chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp xanh, logistics hiện đại; thu hút thêm từ 4 đến 6 tập đoàn đa quốc gia thuộc danh sách Fortune 500; đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế xanh, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và tăng cường kết nối, chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Đồng thời, tiếp tục đầu tư đồng bộ hạ tầng chiến lược, khu kinh tế chuyên biệt, khu thương mại tự do và khu công nghiệp sinh thái.
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TU ngày 26/8/2026 về phát triển thể dục, thể thao thành phố Hải Phòng đến năm 2030, định hướng đến năm 2045. Nghị quyết xác định thể dục, thể thao có vai trò quan trọng trong nâng cao sức khỏe, chất lượng nguồn nhân lực và xây dựng con người Hải Phòng phát triển toàn diện; phát triển thể dục, thể thao là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và mỗi người dân.
Đến năm 2030, thành phố phấn đấu có trên 45% người dân và trên 35% hộ gia đình tập luyện thể thao thường xuyên; 100% cấp xã có thiết chế thể thao hoặc văn hóa - thể thao. Hải Phòng tập trung đầu tư 5 môn thể thao mũi nhọn gồm bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, đua thuyền, bắn súng và 10 môn thể thao trọng điểm; phấn đấu duy trì thể thao thành tích cao trong TOP 5 toàn quốc. Định hướng đến năm 2045, thành phố phấn đấu có vận động viên đạt huy chương Olympic.
Bên cạnh đó, Hải Phòng ưu tiên đầu tư, nâng cấp các công trình thể thao đạt chuẩn quốc tế; nghiên cứu xây dựng mới sân vận động khu vực phía Đông và phía Tây; khuyến khích doanh nghiệp tư nhân tham gia đào tạo vận động viên, đầu tư cơ sở vật chất, phát triển các loại hình dịch vụ thể thao, từng bước phát triển kinh tế thể thao đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của thành phố.
Việc triển khai đồng bộ Nghị quyết số 10-NQ/TW, Kế hoạch số 103-KH/TU và Nghị quyết số 12-NQ/TU có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo động lực mới cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân và củng cố vị thế của Hải Phòng trong giai đoạn phát triển mới.
Mỗi cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ bằng những chương trình, kế hoạch phù hợp với thực tiễn; phát huy vai trò của cán bộ, đảng viên, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tạo sự đồng thuận và quyết tâm cao trong tổ chức thực hiện.
Qua đó, góp phần xây dựng Hải Phòng trở thành thành phố cảng biển hiện đại, văn minh, phát triển nhanh, bền vững; là trung tâm công nghiệp, dịch vụ, đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh cao, đồng thời xây dựng môi trường sống lành mạnh, nâng cao sức khỏe và chất lượng đời sống Nhân dân.